Thursday, January 24, 2013

Những vấn đề quy chế trong hành nghề y



     Các trường hợp cấp cứu thường diễn ra trong hoàn cảnh bất lợi, gần như thành quy luật. Thường là đêm khuya hay ở nơi có hoàn cảnh khó khăn về y tế
 Ở 3 trạng thái sau đây:
-                   -    Về hành động: Hay xảy ra dữ dội, trong tâm trạng đầy lo âu, đôi khi là bi thảm.
-                     Về địa điểm: Tại một bệnh khoa  hay bệnh viện vào lúc mà cán bộ kỹ thuật vừa thiếu lại vừa yếu, nhất là vào ban đêm hay ngày nghỉ cuối tuần.
-                 Về thời  gian: Rất bất lợi, có khi phẫu thuật viên mới ngủ dậy, lại phải kết hợp với kíp mổ không hoàn chỉnh vừa thiếu kinh nghiệm.
    Do cấp cứu có thể xảy ra bất cứ lúc nào, có khi phẫu thuật viên vừa xong ca mổ dài trước đó, hoặc giũa đêm, nên người mổ phải làm việc trong tâm trạng mệt mỏi.
    Một hôm tôi đặt vấn đề với viên dự thẩm về những sai lầm chuyên môn do phẫu thuật viên quá mệt gây ra, ông đáp: “ Tôi sẽ giảm án cho họ”.
   Ngoài ra còn vấn đề tương lai và gia đình bệnh nhân.
   Không dám làm khô khan  một vấn đề mà với tôi bao giờ cũng có thể nói được, tôi muốn đề cập ở đây một số nguyên tắc về quy chế bang hành nghề và những thực tế hay xảy ra.
    Cũng cần nhấn mạnh them về trách nhiệm phẫu thuật viên khi mổ cho những người không quen biết hay phải giải quyết một bệnh không lấy gì làm thích thú hoạc không thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng vì thời gian thôi thúc mà lương tâm thì không bao giờ cho phép làm qua loa.
    Bệnh nhân tỉnh:
    Đối với bệnh nhân tỉnh thì việc viết và ký giấy mổ là cần thiết. Không những đó là điều làm thường quy mà còn giúp ta đối chiếu về sau khi bệnh nhân có thắc mắc  về điều gì
     Còn về bệnh tật của bệnh nhân có nên nói hay không? Nói như thế nào? Có người cho là không nên, co người bảo là nên nói để họ yên tâm. Luật ban hành nghề y đã quy định : Trong cấp cứu, ta chưa đủ thời gian để nói rõ bệnh tật và tiên lượng nặng cho họ biết.
     Trong y văn cũng nói không nên tiết lộ bệnh tật cho bênh nhân. Tuy nhiên ta cần thông báo về mức độ của bệnh nhân cho gia đình, người thân để đề phòng có tử vong về sau, còn bệnh nhân thì không nên cho biết cụ thể.
     Vấn đề này cũng có nhiều phán xử khác nhau: Một số người cho phải” tự do, minh bạch” , Phẫu thuật viên phải nói rõ những gì có thể xảy ra khi mổ nhưng cần diễn đạt “ đơn giản, khéo léo, không xa sự thật, khôn khéo và trung thành ‘, còn những nguy hiểm thì nên kín đáo. Một số người có chủ trương nên giữ gìn không thông báo cho bênh nhân biết những nguy hiểm có thể xảy ra, dù hiếm gặp, vì một bên là bổn phận nhân đạo của người thầy thuốc còn một bên là những điều luật pháp luật yêu cầu.
    Có lẽ điều chính đáng là phải xác định ranh giới của lòng nhân đạo, một thực tế để ngỏ trong hy vọng.
    Có bao nhiêu người trong chúng ta đã từng mổ thông đại tràng tạm thời mà chẳng rõ bao giờ phục hồi được lưu thông ruột. Người thầy thuốc lúc này đứng giữa nghĩa vụ nhân đạo không dám nói thẳng sự thật với mối lo sợ phải ra pháp luật vì điều gi đó không thông báo trước đầy đủ cho bệnh nhân.
    Hình như mọi người quên rằng, bên cạnh cái bí mất nghề nghiệp do luật định, người thầy thuốc cũng còn có sự dè dặt thận trọng của lòng nhân ái.
    Đôi khi chúng ta tự hỏi, nếu giả sử việc tiết lộ bệnh tật được luật pháp cho phép và không coi là điều dại dột, thì bằng cách thổ lộ với người bệnh, người nhà họ sẽ tưởng họ “ được bảo vệ hơn” chăng, hay với những ai mà gia đình không muốn họ “ sa vào thần chết” .
Về vấn đề này, thái độ mỗi người khác nhau, chúng ta khó mà biết được, trong khi đó trước cái chết sắp đến, có bao nhiêu là lý luận.
   “Quan hệ giữa thầy thuốc – bệnh nhân dù muốn hay không đều rang buộc bởi một hợp đồng, trong đó thầy thuốc có trách nhiệm tìm mọi cách cứu chữa cho bệnh nhân khỏi bệnh, bằng những thành tựu khoa học hiện có hoặc ít ra cũng chăm sóc với thái độ thận trọng và tận tâm”
    Nhưng trong thực tế cái hợp đồng rất kêu đó thường bị những người thân hay họ hàng can thiệp vào, nhát là khi điều trị không có kết quả thì, không phải chỉ có bà con, mà con bố mẹ hay những người thân trong gia đình họ sẽ tìm cách để chứng tỏ cho ta thấy những yếu tố không đúng hoặc các hành động không hợp lý, các phương pháp thiếu căn cứ hoặc tốn kém trong phẫu thuật.
    Vì những lẽ đó, thầy thuốc chỉ nên thông báo một cách khôn ngoan về bệnh tật cho bệnh nhân va gia đình họ trước khi mổ. Như vậy nếu có không thành công thì ta cũng đã trao đổi ba mặt một lời.
   Người thầy thuốc cũng cần chú ý thông báo cho những ai còn do dự, sợ sệt, chi cho họ những nguy hiểm có thể xảy ra để họ lựa chọn.
   Bệnh nhân bất tỉnh hay ú ớ:
   Thường đó là những ca tai nạn giao thông, mà chúng ta phải cấp cứu
   Sự có mặt của gia đình không hỗ trợ lớn cho việc giải quyết mà ta đã trình bày ở trên.
          Một số trường hợp đặc biệt:
     Trẻ em mổ do gia đình yêu cầu. Dó là đòi hỏi lịch thiệp và hợp pháp, song cũng cần hiểu thêm.
     Vấn đề còn lại là mổ thế nào thì được xem là hành động thông thường. Những nguy hiểm rất bất ngờ trong ngoại khoa, công luận, báo chí sẽ xem là bình thường hay đặc biết? Dù sao thì chúng tôi khuyên các thầy thuốc nên cẩn thận, nếu nguy hiểm thì vẫn phải có sự đồng ý của cả hai bố mẹ mới mổ.
Trong thực tế, Hiệp hội y tế Paris cũng đã nêu vấn đề này trong thông báo ngày 24- 6 – 1975:
Điều 27: “ Trẻ em nhập viện phải do bố mẹ yêu cầu. Khi cần thiết, phải do người giám hộ hoặc người đại diện cho pháp luật cho phép.”
Điều 28. “ Nếu do ở xa mà bố mẹ hoặc người giám hộ chưa đến thì khi tttrer em vào viện thầy thuốc phải yêu cầu họ đến để ký ngay giấy cam đoan mổ.”
“ Trong khi chờ đợi hoặc còn chần chừ, nếu trẻ em mổ, thì phải yêu cầu họ ký càng sớm càng tốt”.
    Tôi đã viết thư hỏi bộ trưởng y tế rằng:” Khi trẻ vào viện và cần mổ thì cứ phải cả cha hoặc mẹ đồng ý mới được mổ hay chi một người là đủ…”
   Bộ trưởng trả lời  là việc ký giấy mổ chỉ cần một người, hoặc cha hoặc mẹ là đủ.
    Trường hợp do chậm trễ thủ tục, ảnh hưởng đến sinh mạng đứa bé? Xin trích thông báo dưới đây của Giám đốc bệnh viện Cochin: “ Khi cấp cứu, nếu thấy không cần xin ý kiến của Viện kiểm sát và gia đình từ chối, thì thực hiện theo điều 7, chương VIII của Luật hành nghề trong các bệnh viện Paris như sau:
    Trong cấp cứu nếu thầy thuốc không có điều kiện  tiếp cận người trong trẻ, hoặc bị người này từ chối không ký giấy khi mổ, không tiếp nhận truyền máu thì:
Nếu xác nhận là cấp cứu, được chủ nhiệm khoa hoặc người thay thế  chỉ định mổ, bác sĩ cứ tiến hành mổ và chịu  trách nhiệm cá nhân về ca mổ đó.
    Nếu phải hoãn chờ đại diện đứa trẻ thì phải ghi rõ hoàn cảnh này vào bệnh án và được xác nhận của giám đốc bệnh viện.
Đây là những vấn đề quy chế trong hành nghề y được dịch từ tác phẩm của B.Chiche 

Tuesday, January 22, 2013

Điều trị bong gân ( trật sơ mi)


Bong gân là trạng thái tổn thương ở dây chằng khớp, xảy ra do sự cử động quá mức, làm khớp xê dịch đột ngột trong khoảnh khắc rồi trở về vị trí. Bong gân hay còn gọi là trật sơ mi, dãn dây chằng, Dây chằng bị kéo dãn hoặc bị rách là vết thương sưng đỏ và đau buốt.  Bệnh nhân không bị sai khớp hay gãy xương. Bong gân là một trong những tổn thương rất hay gặp và sẽ để lại nhiều hậu quả nếu không điều trị đúng cách. Tuy nhiên trên thực tế thì hầu hết bệnh nhân thường chủ quan với chấn thương này và không tuân thủ đúng điều trị.


 Tổn thương thường xảy ra khi đi giày cao gót bị lật giày, hoặc ngã do chạy nhảy, lao động nặng, chơi thể thao, mang vác vật nặng, bước hụt,  tai nạn giao thông. Khi bị bong gân, bệnh nhân cảm thấy đau nhói như điện giật ở vùng khớp bị trẹo, sau đó, khớp tê dại không còn biết đau nữa. Khoảng 1 giờ sau, cảm giác đau nhức dần dần trở lại. Nếu nhẹ nhàng lật khớp lại giống như lúc bị chấn thương, người bệnh sẽ thấy đau nhói như điện giật. Bong gân thường chia ra 3 độ:
- Độ 1: Dây chằng chỉ bị giãn dài một ít, được coi là nhẹ.
- Độ 2: Dây chằng bị rách một phần, dấu hiệu nặng.
- Độ 3: Dây chằng bị đứt hoàn toàn, dấu hiệu rất nặng.


Xác định mức độ chấn thương đúng để điều trị đúng
Cần dựa vào các biểu hiện qua thăm khám tại chỗ, nếu người bệnh chỉ thấy sưng đau, cảm giác mất vững khi vận động thì dây chằng bị giãn hoặc có đứt một phần nhưng nếu vừa sưng đau, mất vững và vừa bầm tím thì rất có thể dây chằng đã bị đứt một phần hoặc đứt hoàn toàn. Nếu chỉ thấy sưng lên và có thể đi lại được thì vết thương nhẹ  chỉ ở cấp độ 1. Có thể điều trị tại nhà
Để khẳng định chắc chắn hơn, bệnh nhân cần được chụp X-quang, ngoài ra có thể phải làm siêu âm và chụp cộng hưởng từ.
Phải làm gì khi bị bong gân( trật sơ mi) ?      

Khi bị bong gân thì dừng vận động ngay lập tức .Chườm lạnh bằng các túi chườm hoặc bằng túi đá lên chỗ tổn thương, băng nhẹ chỗ khớp để giảm sưng tề to, giảm chảy máu và góp phần cố định khớp
Bất động khớp và chỗ bong gân nếu nạn nhân bong gân nặng, chở ngay các bệnh viện chuyên khoa để chữa trị kịp thời
Đối với tổn thương dây chằng thì biện pháp điều trị bảo tồn là chủ yếu. Quan trọng nhất là cần thực hiện bất động khớp bị tổn thương đủ thời gian để dây chằng phục hồi trở lại. Có thể bất động bằng dùng nẹp y tế, dùng băng chun ép nhưng tốt nhất là bất động bằng đắp bột mới đảm bảo được bất động tuyệt đối. Thời gian cần bất động thường là 4 tuần, với người cao tuổi thì thời gian có thể lâu hơn một chút. Sau đó người bệnh có thể vận động nhẹ nhàng và sau 8 tuần có thể chơi thể thao bình thường. Tốt nhất nên bó bột
Nếu yếu cầu hoạt động thì có thể băng ép hoặc mua băng trật sơmi ở trung tâm thể thao để cố định chỗ bong gân
Những trường hợp tổn thương dây chằng nhưng do không tuân thủ đúng chỉ định điều trị sẽ dẫn đến xơ hoá dây chằng gây đau mạn tính và khó vận động sẽ phải phẫu thuật để tạo hình lại dây chằng.

















Đa số người bệnh sai lầm khi bị bong gân( trật sơ mi) 
Quan niệm của người bệnh thường rất chủ quan khi bị bong gân, họ cho rằng tai nạn bong gân không quan trọng, họ chỉ đến bệnh viện khi có kết hợp với gãy xương, vì thế dẫn đến hàng loạt sai lầm do tự điều trị. Người dân thường dùng mật gấu, rượu, xoa cao vào nơi bị tổn thương, đây là sai lầm nghiêm trọng vì tổn thương dây chằng nghiêm cấm dùng các chất nóng tác động tại chỗ do những chất này gây chảy máu mạnh hơn. Trong khi tổn thương này cần dùng các thuốc gây lạnh và làm giảm đau tại chỗ như các loại thuốc dạng gel lạnh hay salonpas lạnh.
Các chất có tính nóng tuyệt đối không nên xoa vào nơi dây chằng tổn thương vì có thể dẫn đến teo cơ, cứng khớp sau này.
Do chủ quan với bệnh nên hầu hết người bệnh đều cố gắng vận động mà không tuân thủ yêu cầu phải cố định, điều này có thể dẫn đến đau dây chằng mạn tính, có dùng thuốc cũng không điều trị dứt điểm được. Điều này các bạn nên chú ý. Khi bị bong gân thì tốt nhất nên bó bột trong vòng 1 tháng để cố định nếu không sẽ rất lâu khỏi và có thể dẫn tới mãn tính.
Sử dụng các thuốc điều trị bong gân( trật sơ mi)  như thế nào?
Ngoài việc dùng băng chun ép, đắp bột để bất động, người bệnh cần dùng các thuốc sau:
Thuốc giảm đau, dòng pharatamol
Thuốc giảm phù nề, viêm như alphachoay.
Thuốc tan máu bầm
Trong một số trường hợp tổn thương dây chằng lớn có thâm tím do đứt nhiều thì phải dùng kết hợp thuốc kháng sinh để phòng nhiễm khuẩnhttp://www.cand.com.vn/Images/reddot.gif
Kết hợp với ăn uốn đầy đủ chất dinh dưỡng và nên uống vitamin C, calci max để quá trình phục hồi nhanh hơn
Theo  các bác sĩ có kinh nghiệm:
Ngoài các phương pháp trên có thể áp dụng  một số phương thuôc nhân gian nhưng tốt nhất nên bó bột và hạn chế vận động.
Các phương thuốc nhân gian điều trị bong gân( trật sơ mi) :   
            
Cây đại tướng quân ( hay còn gọi là cây lá náng) rất hiệu quả khi chữa bong gân. Lá đại tướng quân đập nát, đem xào trên than lửa, để ấm và đắp lên chân, ngày 1 lần

Ngoài ra lá đại tướng quân có thể đâp nát hơ nóng và lấy hơi ấm áp vào chỗ bong gân, khi lá nguội thì hơ nóng và lặp lại như thế  tu 30- 40 phút Có thể kết hợp lá đại tướng quân với  một số lá:
+ Hành củ + đại tướng quân  + Muối đem giã nát, cho vào ít rượu sau đó đem xào, Đắp vào vết thương khi còn ấm
+Đại tướng quân + la ngải cứu+ rượu hoặc dấm thanh + muối đem giã nát và xào nóng. Đắp vào vết thương
Chú ý để ấm rồi đắp vào chỗ bong gân, Nếu nguội thì thuốc ít tác dụng. Nếu nóng thì gây bỏng da, có thể nhiễm trùng
Ngoài ra có 1 số phương thuốc khác:
- Lá ngải cứu khô 40 g (hoặc tươi 100 g), tẩm rượu hoặc giấm thanh, bó vào nơi tổn thương; hoặc đem xào cho nóng lên để còn hơi âm ấm, bó vào nơi tổn thương. Ngày 1 lần.
- Lá tầm gửi 100 g, lá gấc 30 g, gạch non một ít, giã nát, trộn chung, đắp vào vùng tổn thương. Ngày thay một lần.

- Nghệ+ chanh+ muối trộn đều và đắp vào chỗ bong gân
- Hành đập giã nát + muối đắp vào chỗ bong gân
Pha mật gấu với rượu trắng nhạt, trong uống ngoài xoa; có tác dụng tiêu sưng nề, tan máu tụ, giảm đau nhanh.
-  Làm nóng trái me (có thể đem nướng hay hấp trái me), sau đó lấy cùi trái me đem đắp lên vùng bị bong gân hay sưng phồng. Cách làm này sẽ giúp bạn giảm nhẹ cơn đau và nhanh chóng bình phục.
 - Cây lá náng( đại tướng quân) , quả đu đủ non, vỏ cây gạo lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, bó vào khớp đau.
- Hành 2-3 củ, đậu phụ 60 g, giã nát rồi đắp vào chỗ đau. Mỗi ngày làm 1 lần.
-  Hành củ, gừng già và cỏ gấu lượng bằng nhau, giã nát rồi trộn với bột mỳ và rượu trắng, đắp vào chỗ đau.
-  Lá bưởi tươi rửa sạch, giã nát, trộn với ít rượu trắng đắp vào chỗ đau, mỗi ngày 1-2 lần.
Thuốc uống trong
Bài 1: lá quýt hôi tươi 40g (còn gọi là tầm xoọng) giã nát, hòa với một bát nước sôi để nguội, gạn lấy nước, mỗi lần 100ml. Cách 1 ngày uống 1 lần, giảm sưng đau thì thôi.
Bài 2: nhựa cây si 1 chén (100ml), rượu trắng 100ml, hai thứ hòa lẫn, lắc đều, chia uống 3 lần trong ngày. Nếu không lấy được nhựa si thì dùng lá si tươi 100g giã nát, sắc kỹ lấy nước uống. Uống liền vài ngày, khi hết đau thì thôi.
Trên đây là những bài thuốc rất hữu ích tham khảo cho những trường hợp bong gân nhẹ. Còn đối với những trường hợp bong gân nặng, không được tự ý chữa trị mà phải đến ngay các cơ sở y tế để các bác sĩ khám và điều trị kịp thời.